Thứ Ba, 6 tháng 1, 2009

No Title


10 thủ thuật thiết kế báo cho In ấn


Mạng IJNet của Trung tâm các Nhà báo Quốc tế giới thiệu một số thủ thuật thiết kế báo in như sau:

1. Tạo lập hệ thống cấp bậc. Độc giả chỉ cần nhìn lướt qua cũng phải thấy ngay những tin bài quan trọng nhất trên trang báo. Mỗi trang đều phải có trọng tâm.

2. Tạo trung tâm thị giác. Theo kết quả điều tra, hơn 80% độc giả bắt đầu đọc một trang báo từ hình chủ đạo. Mỗi trang báo nên có một hình ảnh thu hút sự chú ý - có thể là ảnh/hình minh họa của bài viết chính trên trang đó. Tác động trung tâm thị giác là một trong những yếu tố quyết định giá trị tin tức của trang.

3. Tổ chức tốt. Do độc giả không có nhiều thời gian, thông tin trên trang báo phải được tổ chức tốt để tránh gây khó hiểu. Phải đảm bảo rằng thiết kế giúp làm nổi bật những câu hỏi mà độc giả sẽ nêu lên về những thông tin được đăng tải.

4. Sự tương phản. Những trang thiết kế thành công sẽ có các yếu tố theo chiều dọc và theo chiều ngang. Phải có những yếu tố chủ đạo và yếu tố phụ, những tiêu đề chính và những tít thứ yếu.

5. Màu sắc. Dùng màu sắc để thông báo chứ không phải để trang trí. Biết sử dụng màu sắc hay không thể hiện ở việc dùng ảnh và đồ họa. Màu sắc cũng giúp dẫn dắt độc giả đi theo một trình tự nhất định. Các họa sĩ thiết kế cần nắm vững logic về cách sử dụng màu.

6. Kiểu chữ. Càng nhiều kiểu chữ thì độc giả càng thấy lộn xộn. Các biên tập viên nên dành nhiều thời gian để chọn tiêu đề thật ý nghĩa cho bài viết, hơn là loay hoay với việc nên dùng kiểu chữ nào.

7. Gây bất ngờ. Mỗi ngày phải mang đến cho độc giả một điều bất ngờ -- một tiêu đề, một bức ảnh, một câu chuyện hoặc hình đồ họa -- nó phải đặc biệt tới mức độc giả sẽ chuyền tay nhau đọc báo. Thiết kế có thể giúp tạo ra sự bất ngờ đó. Bí quyết ở đây là: hãy tạo nên điều gì đó đặc biệt cho trang báo.

8. Đừng cứng nhắc theo nguyên tắc. Nguyên tắc được đặt ra là để... bị phá vỡ, nhưng chỉ khi có lý do chính đáng. Không thể liên tục phá vỡ nguyên tắc chỉ đạo vì như thế là làm mất cải mốc chuẩn và không tạo ra được bất ngờ về thị giác cho độc giả nữa. Tuy nhiên các họa sĩ thiết kế nên mạnh sáng tạo từ những nguyên tắc cơ bản. Cứng nhắc quá sẽ gây ra sự buồn tẻ.

9. Kiên định. Mục nào đứng ở đâu thì ngày nào cũng phải ở đó để những độc giả bận rộn không mất công tìm kiếm thông tin.

10. Nội dung mới là quan trọng. Những thiết kế đơn giản nhưng năng động mới là thiết kế hiệu quả. Dù thế nào thì nội dung mới là phần quan trọng nhất trong trang báo, phải luôn nhớ rằng việc thiết kế trang phải là để độc giả chú ý vào nội dung.

(theo Diễn đàn Báo chí Việt Nam)

Thế nào là một slogan hoàn hảo?

Đã bao nhiêu lần sau khi tắt TV, trong đầu bạn vẫn rộn rã những giai điệu vui tươi của một tiết mục quảng cáo nào đó? Đây chính là một quảng cáo hiệu quả, bởi giai điệu của nó lôi cuốn đến mức sau vài giờ xuất hiện, nó vẫn phảng phất đâu đó trong suy nghĩ của bạn. Bạn hãy để ý mà xem, điều này có được ở tất cả những khẩu hiệu quảng cáo thành công nhất.

Theo Đại từ điển bách khoa trực tuyến của Anh thì quảng cáo là “những kỹ thuật và cách thức được sử dụng để quảng bá sản phẩm, dịch vụ, ý kiến …tới công chúng, nhằm mục đích thuyết phục mọi người đáp lại theo một cách nhất định đối với những gì đã được giới thiệu”. Còn khẩu hiệu trong quảng cáo là một nhóm từ ngữ xuất hiện bên cạnh và hoà hợp với biểu tượng của công ty, có vai trò nhấn mạnh ấn tượng về thương hiệu trong tâm trí khách hàng. Có thể kể một số ví dụ về các khẩu hiệu nổi tiếng như:

· American Express với "Don't leave home without it" (Đừng ra khỏi nhà mà không mang theo nó)

· Apple với "Think different" (Hãy suy nghĩ khác biệt)

Tuy nhiên, các khẩu hiệu quảng cáo đôi khi không phát huy hết hiệu quả do chúng quá chung chung, chẳng hạn như các khẩu hiệu kiểu như Ready-to-wear (sẵn sàng để mặc) đã được không ít công ty sử dụng và quảng bá.

Khẩu hiệu quảng cáo trên khắp thế giới


Tuỳ theo theo từng quốc gia, từng khu vực, thuật ngữ “khẩu hiệu” (slogan) được gọi theo các cách khác nhau. Tại Mỹ, “khẩu hiệu” (slogan) còn được gọi là tags, tag lines, hay taglines. Tại Anh, “khẩu hiệu” được gọi là end lines, endlines, hay straplines. Người Đức ưa thích từ “claims” (thỉnh cầu) hơn, trong khi người Pháp sử dụng từ “signatures” (ký hiệu). Tại Hà Lan, “khẩu hiệu” (slogan) được gọi là pay-offs hay payoffs. Không chỉ có vậy, có nơi “khẩu hiệu” (slogan) được biết đến với cái tên rip-offs hay ripoffs. Và tại hãng ADSlogans Unlimited, “khẩu hiệu” (slogan) được gọi là slogos (khẩu hiệu bên cạnh logo).

Các khẩu hiệu kinh doanh thường được xem như nhãn hiệu hàng hoá (™ tại phần lớn các quốc gia). Cách sử dụng biểu tượng ™ đơn thuần là một sự xác nhận của nhà quảng cáo rằng họ đang xem xét dòng chữ này như một nhãn hiệu riêng. Nó không đảm bảo bất cứ quyền lợi hợp pháp nào. Để được bảo vệ về mặt pháp lý, khẩu hiệu kinh doanh phải được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc này sẽ tạo ra cho công ty quyền được sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký (®), và sau đó có được sự bảo vệ hoàn toàn về mặt pháp luật trong các vụ kiện tụng. Nhìn chung, luật nhãn hiệu tại các quốc gia là tương tự nhau (bạn có thể kiểm tra chi tiết tại Hiệp hội nhãn hiệu quốc tế International Trademark Association)

Thương hiệu có thể là một nhãn hiệu đã đăng ký, chẳng hạn như Kodak, Xerox, McDonald's, 7Up, hay Coke, nhưng những dòng chữ kiểu như “Your best bet yet!” (Sự đặt cược tốt nhất của bạn) có thể không được bảo vệ độc quyền. Để tránh những rắc rối phát sinh, và khi còn thắc mắc, bạn hãy liên hệ với các luật sư về sở hữu trí tuệ.

Thế nào là một khẩu hiệu hoàn hảo?

Một khẩu hiệu hoàn hảo nên đáp ứng được một vài yếu tố nhất định. Thứ nhất, nó phải dễ nhớ, nghĩa là khẩu hiệu có thể được gợi lên trong tâm trí mọi người bất cứ lúc nào. Điều này phần lớn dựa vào việc bản sắc thương hiệu và khẩu hiệu được sử dụng bao nhiêu lần trong năm. Tuy nhiên, nếu khẩu hiệu kinh doanh là hoàn toàn mới, điều gì sẽ khiến nó được khắc sâu trong tâm trí mọi người? Đó chính là nó cần được nhắc đi nhắc lại trong các chương trình quảng cáo. Khẩu hiệu càng tạo ra tiếng vang bao nhiêu, thì nó càng dễ nhớ bấy nhiêu.

Một khẩu hiệu tốt cần thể hiện rõ những ích lợi chủ yếu. “Engineered like no other car in the world” (Động cơ không có ở bất cứ xe hơi nào khác trên thế giới) là khẩu hiệu thành công của hãng Mercedes-Benz. “Britain's second-largest international scheduled airline” (Hãng hàng không quốc tế lớn thứ hai tại Anh) cũng là một khẩu hiệu tốt của hãng Air Europe.

Có một lời khuyên khá nổi tiếng trong giới tiếp thị là: “Sell the sizzle, not the steak” (Hãy bán âm thanh xèo xèo hấp dẫn, chứ không phải miếng thịt rán), ngụ ý rằng bạn đang bán những ích lợi, chứ không phải những đặc tính. Bạn không được bỏ qua những cơ hội khắc sâu các ích lợi chủ yếu của sản phẩm/dịch vụ trong nhận thức của khách hàng.

Thêm vào đó, một khẩu hiệu tốt nên làm cho thương hiệu của công ty trở nên khác biệt. “Heineken khơi mở lại phần mà các nhãn hiệu khác không thể với tới” là một khẩu hiệu thông minh. Đây là một khẩu hiệu đã ra đời từ rất sớm. Khi có yêu cầu cần làm mới lại, nó đã được mở rộng và thể hiện những tình huống khác nhau, chẳng hạn như con đường thênh thang đi qua sa mạc vào giờ cao điểm với khẩu hiệu “Chỉ duy nhất Heineken có thể làm được điều này” và sau này là những tình huống tưởng chừng như không thể nhưng rất lôi cuốn, chẳng hạn như một nhóm các kỹ sư môi trường thì thầm với nhau: “How refreshing! How Heineken!” (Mát lạnh tuyệt vời! Heineken tuyệt vời!).

Tạo nên sự khác biệt là khẩu hiệu cần phải phác hoạ thành công một số đặc tính nổi bật nào đó của thương hiệu so với các đối thủ cạnh tranh, chẳng hạn như những khẩu hiệu sau:

· British Rail: “We're getting there” (Chúng tôi đang tới đó)

· Metropolitan Home: "Mode for your abode" (Giải pháp cho sự an cư của bạn)

Một khẩu hiệu thành công cũng nên gợi nhớ đến tên thương hiệu. Nếu tên thương hiệu không có mặt trong khẩu hiệu, nó nên được đề cập hay liên tưởng tới. Nike đã “mạo hiểm” dành cả một chương trình quảng cáo chỉ miêu tả duy nhất có hình ảnh biểu tượng. Từ Nike không được nói ra và cũng không xuất hiện. Cách thức ký hiệu học này sẽ có tác dụng rất lớn, bởi vì nó buộc người xem phải nói ra tên nhãn hiệu.

Một trong những cách thức hiệu quả nhất để đưa tên nhãn hiệu vào trong khẩu hiệu là làm cho khẩu hiệu hài hoà với tên thương hiệu. Ví dụ:

· "See the America in your Chevrolet" (Ngắm nhìn nước Mỹ với chiếc xe Chevrolet của bạn)

· "You'll wonder where the yellow went when you brush your teeth with Pepsodent". (Bạn sẽ băn khoăn hỏi xem màu ố vàng biến đi đâu khi bạn đánh răng bằng kem Pepsodent).

Sẽ rất hiệu quả khi trong khẩu hiệu có sự gieo vần, cách dùng từ khéo léo, đồng thời đề cập đến tên thương hiệu. Ví dụ “A Mars a day helps you work, rest, and play” (Một chiếc kẹo Mars mỗi ngày giúp bạn làm việc, giải trí và vui chơi). Chắc bạn cũng hiểu rằng, lợi thế kinh doanh của bạn sẽ mất đi nếu tên thương hiệu và khẩu hiệu không hài hoà, ăn khớp với nhau.

Một khẩu hiệu hoàn hảo nên truyền tải những ấn tượng đẹp về thương hiệu: Tất cả các khẩu hiệu được đề cập ở trên đều làm tốt nhiệm vụ này. “Once driven, forever smitten” (Một khi từng lái, mãi mãi không quên) là một ví dụ, hay “Coke is it!” (Coke là thế đó).

Tương phản với điều này là những khẩu hiệu kiểu thuốc lá 's Newport: "After all, if smoking isn't a pleasure, why bother?" (Cuối cùng, nếu hút thuốc không là một cảm thoải mái, thì có gì phải băn khoăn?). Những quảng cáo tiêu cực kiểu đó khó có thể phát huy hiệu quả. Dưới đây là một số khẩu hiệu không truyền tải được những nội dung tốt:

· Bacardi Spice (Rum): "Distilled in hell" (Nhỏ giọt trong chốn tối tăm)

· Hungry Joes: "Bad news for baked potatoes" (Tin tức tệ hại cho khoai tây nướng)

· Lea & Perrins: "Steak sauce only a cow could hate" (Nước sốt bò chỉ bò mới ghét được)

Quan trọng hơn cả, một khẩu hiệu tốt sẽ không để đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng dễ dàng. Khẩu hiệu của bạn không nên để bất kỳ ai có thể thay tên nhãn hiệu của họ vào và sử dụng luôn. Ví dụ, khẩu hiệu “My goodness, my Murphy's!” (lấy cắp từ khẩu hiệu Guinness) sẽ không thể được sử dụng, nhưng khẩu hiệu “A company called TRW” (Công ty được gọi là TRW) có thể trở thành “A company called …” (Công ty được gọi là … bất cứ thứ gì).

Rất nhiều khẩu hiệu hoàn toàn không có sự khác biệt nào so với các đối thủ cạnh tranh, chẳng hạn như “Simply the Best” (Đơn giản là tốt nhất). Bạn có thể đưa vào đó bất cứ tên thương hiệu nào và khẩu hiệu sẽ trở nên có nghĩa. Điều này đã được chứng minh khi rất nhiều công ty sử dụng chung một kiểu khẩu hiệu:

· Aspen: "Simply the best"

· Bishop's Nissan: "Simply the best"

· Kuoni: "Simply, the best"

Các khẩu hiệu nhạt nhẽo, vô bổ, nghèo nàn ý nghĩa cũng không nên được sử dụng, chẳng hạn như “For those who value excellence” (Cho những người đánh giá cao sự vượt trội) của Henredon Furniture, "We make it better" (Chúng tôi làm cho nó tốt đẹp hơn) của Singer, hay "We make it happen" (Chúng ta tạo ra nó) của Unisys.

Một khẩu hiệu tốt còn phải mang tính chiến lược. Nhiều công ty đã truyền tải một cách hiệu quả chiến lược kinh doanh của họ qua các khẩu hiệu, chẳng hạn như “Innovation” (Đổi mới) của 3M, “Better things for better living, through chemistry” (Những điều tốt hơn cho cuộc sống đẹp hơn, nhờ hoá học) của DuPont, hay “Disease has no greater enemy” (Bệnh tật không có kẻ thù nào lớn hơn) của Glaxo/Wellcome.

Một khẩu hiệu được coi là hoàn hảo cũng cần cố gắng làm sao để hợp thời. Có hai xu hướng phổ biến trong các khẩu hiệu hiện nay. Thứ nhất là khẩu hiệu trong một chữ, chẳng hạn như “Driven” của Hankook Tires (cũng được hãng Nissan sử dụng tại Mỹ), “Think” của IBM (gần đây bị Apple đánh cắp và biến thành “Think Different”. Nhưng thật khó để truyền tải một thông điệp phức tạp với duy nhất một từ, vì vậy đã xuất hiện xu hướng thứ hai...

... Tất cả trong ba từ ngắn gọn:

· ADSlogans Unlimited: “Check. Create. Inspire” (Kiểm tra. Sáng tạo. Lôi cuốn)

· Air với "New. Fast. Efficient." (Mới. Nhanh. Hiệu quả)

· Chevrolet với "Eye it. Try it. Buy it." (Nhìn. Thử. Mua)

· Monsanto với "Food. Health. Hope." (Thức ăn. Sức khoẻ. Hy vọng)

(How stuff works)Tác giả:Tuyết Mai


Một số lỗi quảng cáo nên tránh

Phóng đại thành tích của cty - nên chăng? (Ảnh: Corbis)
Đôi khi, không phải cứ luôn miệng khẳng định công ty bạn là “số 1” thì sẽ lôi kéo được khách hàng.

1. Khẳng định rằng chủ Cty luôn là người giỏi nhất

Quá nhiều kiến thức về sản phẩm khiến chủ Cty trả lời các câu hỏi mà không ai hỏi cả. Chủ Cty ở bên trong nhìn ra ngoài và cố gắng miêu tả bản thân để những người bên ngoài nhìn vào bên trong. Sẽ thật khó để đọc một nhãn mác nếu bạn ở bên trong chiếc chai.

2. Những giới thiệu không có căn cứ

Một giới thiệu không có căn cứ không khác gì lời nói sáo rỗng khiến khách hàng cảm thấy chán nản khi nghe thấy. Bạn phải chứng minh được những gì bạn nói trong quảng cáo của mình.

3. Xây dựng các quảng cáo thay vì các chiến dịch

Những quảng cáo đáng nhớ, mang tính thuyết phục và hiệu quả cao nhất là những quảng cáo giống như một con tê giác: Chúng tạo ra những vấn đề đơn nhất, một cách mạnh mẽ. Một quảng cáo với 17 điểm khác biệt để thể hiện nên được chuyển thành một chiến dịch với 17 quảng cáo khác biệt, mỗi quảng cáo được lặp lại đủ tần suất để khắc sâu trong tâm trí khách hàng.

4. Theo đuổi chương trình quảng cáo vào cuối tuần

Các nhà quảng cáo thường biện hộ cho sự theo đuổi việc quảng cáo vào thứ năm hay thứ sáu rằng: "Chúng ta cần phải tiếp cận khách hàng trước khi họ đi mua sắm". Tại sao các nhà quảng cáo lại cạnh tranh với nhau để có được sự chú ý của khách hàng vào thứ năm và thứ sáu trong khi họ hoàn toàn có thể có được những tiếp cận với khách hàng một cách dễ dàng và hiệu quả hơn vào chủ nhật, thứ hai hay thứ ba?

5. Sự mới mẻ nghèo nàn và kém hiệu quả

Rất nhiều quảng cáo ngày nay thể hiện sự sáng tạo mà không có tính thuyết phục. Sự bóng mượt, thông minh, vui vẻ, sáng tạo và khác biệt là những thay thế nghèo nàn cho yếu tố thông tin, tin tưởng, ghi nhớ và thuyết phục.

6. Quá tự tin vào mục tiêu chất lượng

Rất nhiều nhà quảng cáo và các chuyên gia truyền thông đại chúng đánh giá quá cao tầm quan trọng của yếu tố chất lượng. Trên thực tế, việc nói ra những điều không đúng sẽ huỷ hoại các chiến dịch quảng cáo hơn là tiếp cận sai lệch với các khách hàng. Sẽ thật thú vị khi bạn biết rằng có bao nhiêu người sẽ trở thành khách hàng của bạn khi bạn giới thiệu những điều đúng đắn.
(theo tuoitre)


40 nguyên tắc thủ thuật sáng tạo cơ bản

hủ thuật là thao tác tư duy đơn lẻ kiểu: hãy đặc biệt hoá bài toán, hãy phân nhỏ đối tượng, hãy làm ngược lại... Dựa trên việc phân tích hàng trăm ngàn sáng chế ở những nghành kỹ thuật mũi nhọn, người ta tìm được 40 thủ thuật cơ bản. Chúng còn có tên gọi là các thủ thuật khắc phục mâu thuẫn kỹ thuật. Cùng với sự phát triển của KHKT, số lượng các thủ thuật có thể tăng thêm và bản thân từng thủ thuật sẽ được cụ thể hoá hơn nữa cho phù hợp với các chuyên nghành hẹp.

1) Nguyên tắc phân nhỏ

a) Chia đối tượng thành các phần độc lập.
b) Làm đối tượng trở nên tháo lắp được.
c) Tăng mức độ phân nhỏ đối tượng.

2) Nguyên tắc “tách khỏi”

a) Tách phần gây “phiền phức” (tính chất “phiền phức”) hay ngược lại tách phần duy nhất “cần thiết” (tính chất “cần thiết”) ra khỏi đối tượng.

3) Nguyên tắc phẩm chất cục bộ

a) Chuyển đối tượng (hay môi trường bên ngoài, tác động bên ngoài) có cấu trúc đồng nhất thành không đồng nhất.
b) Các phần khác nhau của đối tượng phải có các chức năng khác nhau.
c) Mỗi phần của đối tượng phải ở trong những điều kiện thích hợp nhất đối với công việc.

4) Nguyên tắc phản đối xứng

Chuyển đối tượng có hình dạng đối xứng thành không đối xứng (nói chung giãm bật đối xứng).

5) Nguyên tắc kết hợp

a) Kết hợp các đối tượng đồng nhất hoặc các đối tượng dùng cho các hoạt động kế cận.
b) Kết hợp về mặt thời gian các hoạt động đồng nhất hoặc kế cận.

6) Nguyên tắc vạn năng

Đối tượng thực hiện một số chức năng khác nhau, do đó không cần sự tham gia của các đối tượng khác.

7) Nguyên tắc “chứa trong”

a) Một đối tượng được đặt bên trong đối tượng khác và bản thân nó lại chứa đối tượng thứ ba ...
b) Một đối tượng chuyển động xuyên suốt bên trong đối tượng khác.

8) Nguyên tắc phản trọng lượng

a) Bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng cách gắn nó với các đối tượng khác có lực nâng.
b) Bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng tương tác với môi trường như sử dụng các lực thủy động, khí động...

9) Nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ

Gây ứng suất trước với đối tượng để chống lại ứng suất không cho phép hoặc không mong muốn khi đối tượng làm việc (hoặc gây ứng suất trước để khi làm việc sẽ dùng ứng suất ngược lại ).

10) Nguyên tắc thực hiện sơ bộ

a) Thực hiện trước sự thay đổi cần có, hoàn toàn hoặc từng phần, đối với đối tượng.
b) Cần sắp xếp đối tượng trước, sao cho chúng có thể hoạt động từ vị trí thuận lợi nhất, không mất thời gian dịch chuyển.
1) Nguyên tắc dự phòng

Bù đắp độ tin cậy không lớn của đối tượng bằng cách chuẩn bị trước các phương tiện báo động, ứng cứu, an toàn.

12) Nguyên tắc đẳng thế

Thay đổi điều kiện làm việc để không phải nâng lên hay hạ xuống các đối tượng.

13) Nguyên tắc đảo ngược

a) Thay vì hành động như yêu cầu bài toán, hành động ngược lại (ví dụ, không làm nóng mà làm lạnh đối tượng)
b) Làm phần chuyển động của đối tượng (hay môi trường bên ngoài) thành đứng yên và ngược lại, phần đứng yên thành chuyển động.

14) Nguyên tắc cầu (tròn) hoá

a) Chuyển những phần thẳng của đối tượng thành cong, mặt phẳng thành mặt cầu, kết cấu hình hộp thành kết cấu hình cầu.
b) Sử dụng các con lăn, viên bi, vòng xoắn.
c) Chuyển sang chuyển động quay, sử dụng lực ly tâm.

15) Nguyên tắc linh động

a) Cần thay đổi các đặt trưng của đối tượng hay môi trường bên ngoài sao cho chúng tối ưu trong từng giai đoạn làm việc.
b) Phân chia đối tượng thành từng phần, có khả năng dịch chuyển với nhau.

16) Nguyên tắc giải “thiếu” hoặc “thừa”

Nếu như khó nhận được 100% hiệu quả cần thiết, nên nhận ít hơn hoặc nhiều hơn “một chút”. Lúc đó bài toán có thể trở nên đơn giản hơn và dễ giải hơn.

17) Nguyên tắc chuyển sang chiều khác

a) Những khó khăn do chuyển động (hay sắp xếp) đối tượng theo đường (một chiều) sẽ được khắc phục nếu cho đối tượng khả năng di chuyển trên mặt phẳng (hai chiều). Tương tự, những bài toán liên quan đến chuyển động (hay sắp xếp) các đối tượng trên mặt phẳng sẽ được đơn giản hoá khi chuyển sang không gian (ba chiều).
b) Chuyển các đối tượng có kết cấu một tầng thành nhiều tầng.
c) Đặt đối tượng nằm nghiêng.
d) Sử dụng mặt sau của diện tích cho trước.
e) Sử dụng các luồng ánh sáng tới diện tích bên cạnh hoặc tới mặt sau của diện tích cho trước.

18) Nguyên tắc sử dụng các dao động cơ học

a) Làm đối tượng dao động. Nếu đã có dao động, tăng tầng số dao động ( đến tầng số siêu âm).
b) Sử dụng tầng số cộng hưởng.
c) Thay vì dùng các bộ rung cơ học, dùng các bộ rung áp điện.
d) Sử dụng siêu âm kết hợp với trường điện từ.

19) Nguyên tắc tác động theo chu kỳ

a) Chuyển tác động liên tục thành tác động theo chu kỳ (xung).
b) Nếu đã có tác động theo chu kỳ, hãy thay đổi chu kỳ.
c) Sử dụng các khoảng thời gian giữa các xung để thực hiện tác động khác.

20) Nguyên tắc liên tục tác động có ích

a) Thực hiện công việc một cách liên tục (tất cả các phần của đối tượng cần luôn luôn làm việc ở chế độ đủ tải).
b) Khắc phục vận hành không tải và trung gian.
c) Chuyển chuyển động tịnh tiến qua lại thành chuyển động quay.
21) Nguyên tắc “vượt nhanh”

a) Vượt qua các giai đoạn có hại hoặc nguy hiểm với vận tốc lớn.
b) Vượt nhanh để có được hiệu ứng cần thiết.

22) Nguyên tắc biến hại thành lợi

a) Sử dụng những tác nhân có hại (thí dụ tác động có hại của môi trường) để thu được hiệu ứng có lợi.
b) Khắc phục tác nhân có hại bằng cách kết hợp nó với tác nhân có hại khác.
c) Tăng cường tác nhân có hại đến mức nó không còn có hại nữa.

23) Nguyên tắc quan hệ phản hồi

a) Thiết lập quan hệ phản hồi
b) Nếu đã có quan hệ phản hồi, hãy thay đổi nó.

24) Nguyên tắc sử dụng trung gian

Sử dụng đối tượng trung gian, chuyển tiếp.

25) Nguyên tắc tự phục vụ

a) đối tượng phải tự phục vụ bằng cách thực hiện các thao tác phụ trợ, sửa chữa.
b) Sử dụng phế liệu, chát thải, năng lượng dư.

26) Nguyên tắc sao chép (copy)

a) Thay vì sử dụng những cái không được phép, phức tạp, đắt tiền, không tiện lợi hoặc dễ vỡ, sử dụng bản sao.
b) Thay thế đối tượng hoặc hệ các đối tượng bằng bản sao quang học (ảnh, hình vẽ) với các tỷ lệ cần thiết.
c) Nếu không thể sử dụng bản sao quang học ở vùng biẻu kiến (vùng ánh sáng nhìn thấy được bằng mắt thường), chuyển sang sử dụng các bản sao hồng ngoại hoặc tử ngoại.

27) Nguyên tắc “rẻ” thay cho “đắt”

Thay thế đối tượng đắt tiền bằng bộ các đối tượng rẻ có chất lượng kém hơn (thí dụ như về tuổi thọ).

28) Thay thế sơ đồ cơ học

a) Thay thế sơ đồ cơ học bằng điện, quang, nhiệt, âm hoặc mùi vị.
b) Sử dụng điện trường, từ trường và điện từ trường trong tương tác với đối tượng .
c) Chuyển các trường đứng yên sang chuyển động, các trường cố định sang thay đổi theo thời gian, các trường đồng nhất sang có cấu trúc nhất định .
d) Sử dụng các trường kết hợp với các hạt sắt từ.

29) Sử dụng các kết cấu khí và lỏng

Thay cho các phần của đối tượng ở thể rắn, sử dụng các chất khí và lỏng: nạp khí, nạp chất lỏng, đệm không khí, thủy tĩnh, thủy phản lực.

30) Sử dụng vỏ dẻo và màng mỏng

a) Sử dụng các vỏ dẻo và màng mỏng thay cho các kết cấu khối.
b) Cách ly đối tượng với môi trường bên ngoài bằng các vỏ dẻo và màng mỏng.
31) Sử dụng các vật liệu nhiều lỗ

a) Làm đối tượng có nhiều lỗ hoặc sử dụng thêm những chi tiết có nhiều lỗ (miếng đệm, tấm phủ..)
b) Nếu đối tượng đã có nhiều lỗ, sơ bộ tẩm nó bằng chất nào đó.

32) Nguyên tắc thay đổi màu sắc

a) Thay đổi màu sắc của đối tượng hay môi trường bên ngoài
b) Thay đổi độ trong suốt của của đối tượng hay môi trường bên ngoài.
c) Để có thể quan sát được những đối tượng hoặc những quá trình, sử dụng các chất phụ gia màu, hùynh quang.
d) Nếu các chất phụ gia đó đã được sử dụng, dùng các nguyên tử đánh dấu.
e) Sử dụng các hình vẽ, ký hiệu thích hợp.

33) Nguyên tắc đồng nhất

Những đối tượng, tương tác với đối tượng cho trước, phải được làm từ cùng một vật liệu (hoặc từ vật liệu gần về các tính chất) với vật liệu chế tạo đối tượng cho trước.

34) Nguyên tắc phân hủy hoặc tái sinh các phần

a) Phần đối tượng đã hoàn thành nhiệm vụ hoặc trở nên không càn thiết phải tự phân hủy (hoà tan, bay hơi..) hoặc phải biến dạng.
b) Các phần mất mát của đối tượng phải được phục hồi trực tiếp trong quá trình làm việc.

35) Thay đổi các thông số hoá lý của đối tượng

a) Thay đổi trạng thái đối tượng.
b) Thay đổi nồng độ hay độ đậm đặc.
c) Thay đổi độ dẻo
d) Thay đổi nhiệt độ, thể tích.

36) Sử dụng chuyển pha

Sử dụng các hiện tượng nảy sinh trong quá trình chuyển pha như : thay đổi thể tích, toả hay hấp thu nhiệt lượng...

37) Sử dụng sự nở nhiệt

a) Sử dụng sự nở (hay co) nhiệt của các vật liệu.
b) Nếu đã dùng sự nở nhiệt, sử dụng với vật liệu có các hệ số nở nhiệt khác nhau.

38) Sử dụng các chất oxy hoá mạnh

a) Thay không khí thường bằng không khí giàu oxy.
b) Thay không khí giàu oxy bằng chính oxy.
c) Dùng các bức xạ ion hoá tác động lên không khí hoặc oxy.
d) Thay oxy giàu ozon (hoặc oxy bị ion hoá) bằng chính ozon.

39) Thay đổi độ trơ

a) Thay môi trường thông thường bằng môi trường trung hoà.
b) Đưa thêm vào đối tượng các phần , các chất , phụ gia trung hoà.
c) Thực hiện quá trình trong chân không.

40) Sử dụng các vật liệu hợp thành (composite)

Chuyển từ các vật liệu đồng nhất sang sử dụng những vật liệu hợp thành (composite). Hay nói chung, sử dụng các vật liệu mới.

Ưu điểm của các thủ thuật:
1. Có thể dạy và học các thủ thuật được. Để luyện tập có thể lấy một đối tượng hoặc một giải pháp kỹ thuật rồi phân tích xem người ta đã dùng các thủ thuật gì, nhằm giải quyết vấn đề nào. Cũng có thể lấy một đối tượng nào đó rồi dùng các thủ thuật tác động lên nó để phát các ý tưởng cải tiến , hoàn thiện đối tượng đó ( các thủ thuật cơ bản này không đơn thuần là công cụ, chúng còn phản ánh khuynh hướng phát triển các hệ kỹ thuật nói chung và hệ thống nói chung nên chúng có công dụng khá lớn ). Có thể dùng các thủ thuật theo cách trên để luyện tập phát triển trí tưởng tượng.

2. Nếu dùng các thủ thuật đúng nơi,đúng lúc, đúng cách thì suy nghĩ sẽ trở nên định hướng và tiết kiệm thời gian giải bài toán .

3. Có thể nhân sức mạnh của các thủ thuật bằng cách không chỉ dùng các thủ thuật đơn lẻ mà dùng các tổ hợp của chúng.

4. Mặc dù các thủ thuật tìm ra từ lĩnh vực sáng tạo kỹ thuật nhưng có thể mở rộng dùng chúng ở các lĩnh vực sáng tạo khác nếu hiểu chúng một cách linh hoạt, khái quát cộng với trí tưởng tượng.

Nhược điểm của các thủ thuật:

1. không có các tiêu chuẩn khách quan để xác định cụ thể dùng thủ thuật gì, lúc nào, ở đâu và như thế nào để giải bài toán cho trước nhanh nhất.

2. trên thực tế, người ta thường dùng tổ hợp các thủ thuật để giải, do vậy, lại đụng đến vấn đề số lớn của phương pháp thử và sai.

3. khi một số thủ thuật mang lại lợi ích cho người giải và trở nên được yêu thích, chúng tiềm chứa tính ì tâm lý, cản trở sáng tạo khi phải giải các bài toán loại khác.

No title

Màu sắc không đứng riêng lẻ một mình. Thật vậy, hiệu ứng của một màu phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Mức độ phản chiếu ánh sáng của nó.
- Màu sắc môi trường chung quanh.
1/ Khoẻ mạnh POWERFUL
Muốn phối màu tạo ra hiệu ứng khoẻ mạnh, sôi động thì phải kết hợp với màu đỏ.
Chủ đề chính của một bức tranh, một tấm hình kết hợp với màu đỏ sẽ luôn gây sự chú ý.
Màu có hiệu ứng khoẻ mạnh tạo ngay cho người xem tình cảm yêu hoặc ghét rõ rệt.
Vì vậy hiệu ứng khoẻ mạnh sẽ làm tăng tình cảm của chúng ta với chủ đề chính.
Trong lãnh vực quảng cáo, hiệu ứng khoẻ mạnh của màu sắc rất cần để chuyển tải những chủ đề chính đến
2/ Đầm ấm RICH
Muốn phối màu tạo ra hiệu ứng đầm ấm, dồi dào, tráng lệ thì phải luôn kết hợp với màu tối.
Chẳng hạn nét thâm trầm sâu lắng thể hiện qua màu đỏ huyết dụ là sự phối hợp giữa màu đen và màu đỏ.
Thêm màu xanh lá cây đậm và màu vàng sậm sẽ tạo ra sự dồi dào, sung túc.
Những nét sậm này lại tạo ra sự xa hoa, lộng lẫy…
Nếu dùng hiệu ứng này để thiết kế vải sợi thì sẽ cho ra những xấp tơ lụa có dáng vẻ quý phái và sang trọng.
3/ Lãng mạn ROMANTIC
Màu hồng tạo ra nét lãng mạn.
Màu hồng được tạo ra từ việc kết hợp màu trắng với màu đỏ.
Cũng như màu đỏ, màu hồng gây sự chú ý và tạo ra sự sôi nổi nhưng nhẹ nhàng và êm ái hơn.
Muốn tạo hiệu ứng lãng mạn thì kết hợp màu hồng với những màu tương đồng và dùng thêm độ sáng tối.
Dùng màu hồng để tạo ra thiệp chúc mừng thì thật tinh tế và trang nhã.
Cũng với hiệu ứng lãng mạn mà hoa hồng luôn tượng trưng cho tình yêu nồng thắm.
4/ Sinh động VITAL
Hiệu ứng sinh động và nhiệt thành được làm rõ nét trong thiết kế và đồ hoạ bằng cách dùng màu một cách bình thường nhưng phải biết tạo ra nét chấm phá.
Ví dụ như ở hình dưới đây: màu đen dùng làm nền cho bức ảnh, màu đỏ cam là trung tâm gây chú ý.
Thêm hiệu ứng ánh sáng sẽ làm màu đỏ cam lôi cuốn hơn
5/ Bụi đất EARTHLY
Hiệu ứng bụi đất thường dùng màu sậm.
Màu đỏ cam đậm hay gọi là màu đất có một nét “bụi”
Khi dùng với màu trắng nó tạo ra sự chói chang, rực rỡ.
Hiệu ứng màu bụi đất tạo ra một nét trầm lắng, vô tư làm người xem như được thư giãn.
Màu đất thường dùng trang trí nội thất để gợi lên trong chúng ta khung cảnh của những vùng hoang mạc hay cao nguyên đất đỏ nào đó.
6/Thân thiện FRIENDLY
Muốn phối màu tạo ra nét thân thiện, nhiệt tình chúng ta nên dùng màu cam.
Màu cam và những màu tương đồng của nó đều được tạo ra trên nền màu đỏ.
Vì thế, sắc cam thường dùng để tô điểm cho những món ăn nhanh trong nhà hàng.
Nó làm chúng ta có cảm giác món ăn ngon.
Màu cam còn dùng trong các dụng cụ cứu hộ như áo phao…vì màu cam của áo sẽ nổi bật trên nền biển xanh.

7/ Ôn Hoà SOFT
Màu sáng với độ tương phản cao thường phù hợp với việc phối ra màu sắc với hiệu ứng ôn hoà.
Màu hồng quả đào trong bảng màu tạo ra nét ôn hoà, trang nhã và ngọt ngào.
Chính vì vậy mà trong nhà hàng và các tiệm bán thời trang thường dùng màu sắc này.
Khi phối hợp với màu tím nhạt và màu xanh nó sẽ làm sáng dịu khung cảnh.
Dùng những màu sắc này để trang trí nhà cũng rất phù hợp.
Màu sắc ôn hoà sẽ tạo ra cảm giác ngọt ngào, êm ái

8/ Đón chào WELCOMING
Màu vàng cam hay màu hổ phách đều được tạo ra trên nền màu đỏ.
Chính vì vậy chúng gây sự chú ý như mời gọi và đón chào người xem.
Thật vậy, trong cuộc sống, màu của những đồ vật bằng vàng đã nói lên sự quyến rũ, mời gọi của nó.
Nếu kết hợp với màu sáng của pha lê sẽ tạo ra một nét đẹp tuyệt vời.
Màu vàng cam và màu tương đồng rất phù hợp với không khí lễ hội.
Trong các đám cưới Á đông không thể thiếu sắc màu này.

9/ Chuyển động MOVING
Những màu sắc sáng phối hợp với nhau sẽ tạo ra hiệu ứng chuyển động.
Tuy nhiên nên lấy màu vàng làm trung tâm, vì màu vàng như ánh sáng mặt trời, tạo ra hiệu ứng chuyển động cho hình ảnh.
Khi thêm màu trắng vào màu vàng, mức độ toả sáng càng tăng lên.
Nếu phối màu tương phản cao, màu vàng có thể kết hợp với màu tím.
Ngoài ra màu vàng và những màu tương đồng sẽ tạo ra hiệu ứng chuyển động cho khoảng không gian chung quanh.

10/ Thanh lịch ELEGANT
Để có hiệu ứng thanh lịch chỉ nên phối những màu nhẹ với nhau.
Chẳng hạn như màu vàng nhạt phối hợp với màu trắng cho ra màu vàng kem.
Trong thời trang, các chất liệu vải; tơ lụa; len; nhung dùng màu kem sẽ tạo được một ấn tượng thoải mái và thanh lịch.

11/ Theo mốt TRENDY
Cái gì là mốt của hôm nay có thể là bình thường ở ngày mai.
Muốn tạo ra hiệu ứng hợp thời trang nên dùng màu tạo ấn tượng trẻ trung.
Màu lục nhạt là một màu dễ gây ấn tượng trẻ trung và nổi bật.
Màu lục nhạt phối với những màu sáng tương đồng được dùng nhiều trong thời trang.
Ngoài ra để tô điểm có thể dùng kèm với màu đỏ cam nhạt và màu tím.
12/ Tươi mát FRESH
Hiệu ứng tươi mát, trong lành trong phối màu là sự cân bằng của màu xanh, vàng và xanh lá.
Màu xanh lá là một màu yếu nên có thể phối hợp với một phần của màu đỏ để tạo thêm sinh khí cho ảnh.
Tuy nhiên với những màu tương đồng của màu xanh luôn tạo ra ấn tượng tươi mát, trong lành.
13/ Truyền thống TRADITIONAL
Phối màu truyền thống mang một ý nghĩa lịch sử.
Màu xanh, màu đỏ tía, màu nâu vàng, màu xanh lá tạo ra ấn tượng cổ xưa.
Màu xanh lá cây đi kèm với màu sậm tối luôn tạo cho người xem một cảm giác bền vững.
Thật vậy, màu xanh lá phối với màu vàng đậm hoặc màu đỏ tía trong sắc tối sẽ tạo ấn tượng ấm áp và bền vững.
Trong trang trí, cách phối màu này thường dùng để lấp khoảng trống các văn phòng vì nó tạo được cảm giác cố định, lâu dài.

14/ Dễ chịu REFRESHING
Để tạo ra cảm giác dễ chịu thì luôn phải dùng màu lạnh khi phối màu.
Thông thường là màu lục lam, đôi lúc đi kèm với màu đỏ cam.
Màu lục lam luôn tạo ra cảm giác hưng phấn dễ chịu.
Nó thường được dùng trong quảng cáo du lịch, gợi lên cho người xem một cảm giác thư thái và nghỉ ngơi.
Màu lục lam sẽ rạng rỡ hơn nếu được kết hợp với màu trắng của bọt nước hoặc sóng biển.

15/ Nhiệt đới TROPICAL
Đó là màu ngọc bích, luôn tạo ra một cảm giác trẻ trung, nồng nhiệt.
Dãy màu từ lục lam sáng đến ngọc bích nếu phối với màu trắng sẽ cho ra màu hơi mát.
Màu đỏ cam ấm áp sẽ nổi bật giữa nền màu ngọc bích mát lạnh hoặc nếu cho màu vàng cam và màu tím đi chung với màu ngọc bích để tạo sự trang nhã và sang trọng.
16/ Cổ điển CLASSIC
Nét cổ điển tạo ra cảm giác mạnh mẽ và uy quyền.
Nét cổ điển được tạo ra từ màu vàng và những màu tương đồng nói lên quyền lực của vua chúa.
Màu xanh dương và màu xanh lam đậm như tăng thêm sức mạnh.
Để làm nổi bật hơn có thể điểm thêm nét chấm phá màu đỏ.
Thật ra cũng chẳng lạ gì, những màu tạo ra sự mạnh mẽ chính là ba màu cơ bản Vàng - Đỏ - Xanh.
17/ Tin cậy DEPENDABLE
Một trong những màu được dùng rộng rãi đó là màu xanh biển.
Màu xanh biển tạo ra một cảm giác tin cậy, mạnh mẽ.
Nếu nền xanh biển sậm được tô điểm bằng màu vàng thì sẽ có hiệu ứng mềm mại hơn.
Nếu muốn tạo ra một cảm giác mạnh mẽ và kiên quyết thì màu xanh thường được phối hợp với màu đỏ và màu vàng.

18/ Êm đềm CALM
Đứng trước một màu xanh của biển người ta thường thấy một cảm giác êm đềm và thanh thản.
Trong những môi trường làm việc căng thẳng nếu màu lục lam được dùng làm nền chính thì sẽ làm cho mọi người thấy công việc nhẹ nhàng hơn.
Màu xanh, đỏ , vàng ở dạng phớt nhạt có thể phối hợp với nhau trong cùng một môi trường để tạo thêm nét sinh động.

19/ Vương giả REGAL
Sự mạnh mẽ của màu xanh pha trộn với sự rực rỡ của màu đỏ tạo ra màu tím Huế.
Để làm giảm bớt sự mạnh mẽ, người ta pha thêm chút màu đen để tạo ra màu tím thẫm.
Màu tím Huế nếu đặt trên nền đen sẽ tạo ra sự sâu lắng, trên nền vàng sẽ tạo ra sự rực rỡ.
Chẳng khác nào quả mận chín tắm trong nắng vàng của mùa hè.
Nếu đặt trên nền vàng cam sẽ tạo ra một nét đẹp vương giả.

20/ Lôi cuốn MAGICAL
Màu tím có sức mạnh lôi cuốn riêng của nó.
Không biết người ta phải tốn bao nhiêu công sức để làm thơ ca ngợi màu áo tím.
Màu tím và màu vàng luôn quyện với nhau, cùng tô điểm để làm đẹp hơn.
Nếu bất chợt thấy một tà áo dài tím bước đi trên thảm lá vàng thì chắc đó là một ý thơ hữu tình.
Tuy nhiên khi phối màu tím với màu lục nhạt hoặc màu vàng cam sẽ tạo ra hiệu ứng chói và khó chịu.
21/ Nhớ nhung NOSTALGIC
Vẫn là tím nhưng là màu tím nhạt.
Một lá thư bằng màu tím nhạt chắc chắn muốn nói lên sự nhớ nhung.
Màu tím luôn là màu lãng mạn của thơ ca.
Ví dụ:
Chiều tím, chiều nhớ thương ai ? Còn thương nhớ hoài…(Đan Thọ - Đinh Hùng)
Màu tím sẽ rực rỡ hơn với màu vàng và say đắm; nồng nhiệt hơn với màu hồng.
Có lẽ vậy mà trong bài Chiều Tím, tác giả đã phối màu rất tuyệt:
Nét hoa mơ vàng và em với chàng kề vai áo phấn hương…
22/ Mạnh mẽ ENERGETIC
Để tạo ra sự mạnh mẽ người ta thường dùng màu đỏ tím hay màu cánh sen đậm.
Đỏ tím hay cánh sen trong sắc tươi thắm sẽ tạo ra một sức sống mãnh liệt.
Có thể dùng sự chỏi màu của màu cánh sen, màu vàng và màu xanh lá cây để tạo ra cảm giác chuyển động nhưng cũng phải có giới hạn trong cách phối màu này.

23/ Êm dịu SUBDUED
Không như sự mãnh liệt của màu hoa cà, màu cánh sen, khi phối màu tạo sự êm dịu cần một chút tương phản.
Màu tím hoa cà chen lẫn trong màu cánh sen, màu xám và màu trắng sẽ tạo ra một khung cảnh êm dịu.
Ngoài ra có thể tô điểm thêm màu xanh lá mạ hoặc tăng sự tương phản bằng cách thêm màu đen làm nền.
Những sắc màu trên đều được tự nhiên phối màu sẵn qua những cảnh hoàng hôn, gió núi…

24/ Nghề nghiệp PROFESSIONAL
Màu sắc trong công sở được chú ý đặc biệt.
Thời trang công sở thường ở màu xám, thiên về sậm đen.
Bởi vì những màu này là màu trung tính, không làm mất đi nét riêng của mỗi người.
Nếu phối màu, lấy màu xám làm nền và màu đỏ, đỏ cam hay nâu làm màu tô điểm thì thật đẹp.
Màu sắc trung tính tạo nên sự tự tin trong công việc, một điều rất cần thiết cho những nhà doanh nghiệp và những người thường xuyên có nhu cầu giao tiếp.

Thiết kế Logo - Những lời khuyên cho DN TMĐT

Phải mất vài giây để một người nào đó hình thành suy nghĩ về doanh nghiệp của bạn và thông thường logo của DN sẽ góp phần giúp họ tạo nên suy nghĩ đó.

Chẳng hạn, sử dụng font chữ Comic Sans trong trình soạn thảo văn bản (Word) sẽ không mang lại cho bạn hình ảnh chuyên nghiệp. Cho nên, người ta luôn khuyên rằng trước khi bắt đầu sự nghiệp kinh doanh, bạn nên thuê một nhà thiết kế chuyên nghiệp tạo logo cho công ty. Bản tin tuần này chúng tôi sẽ đưa ra cho bạn những lời khuyên liên quan đến chi phí và kiến thức cần thiết để thiết kế 1 logo cho DN. Bài viết cũng sẽ xem xét cách chọn 1 nhà thiết kế thích hợp và điều gì cần mong đợi ở họ. Chúng ta sẽ kết thúc với phần sử dụng logo như thế nào để xây dựng thương hiệu và duy trì 1 hình ảnh thống nhất.

1. Chọn nhà thiết kế


Bạn nên thận trọng khi chọn nhà thiết kế. Nếu chất lượng là vấn đề quan trọng, hãy chọn nhà thiết kế có bằng cấp hoặc đã có từ 3 năm kinh nghiệm trở lên. Nếu eo hẹp về ngân sách thì bạn có thể tìm đến những nhà thiết kế để tạo 1 logo với giá khoảng 70 USD nhưng với mức giá ấy bạn đừng hy vọng họ sẽ diễn tả được đầy đủ thông điệp mà logo cần mang về DN bạn. Tuy nhiên, với ngân sách như vậy thì điều đó có thể chấp nhận được.

Nhà thiết kế nên:

- Đưa ra các câu hỏi về DN (mục tiêu)

- Xác định những màu sắc cần thiết

- Đề xuất các kiểu dáng và thảo luận về các kiểu chữ với bạn

- Anh/chị ta phải có chính kiến đối với các font chữ họ sử dụng và áp dụng chúng cho đến khi hoàn thành

- Vẽ các minh hoạ cần thiết để đưa vào logo

- Không sử dụng clip art

- Không sao chép tác phẩm của người khác và cũng không nên hỏi họ

- Đưa ra thiết kế sườn trong vòng 2 tuần

- Hướng dẫn phong cách cho logo cuối cùng

Nếu bạn có ngân sách lớn và cảm thấy cần một logo thực sự có ích cho việc kinh doanh thì lời khuyên cho bạn là tìm một nhà thiết kế logo và nhãn hiệu chuyên nghiệp. Nhà thiết kế này, giá khoảng 550 USD trở lên/1 tuần, sẽ tìm hiểu về công ty của bạn và nghiên cứu chi tiết những ý tưởng gì nên đưa vào logo. Điều này có thể nghe hơi quá nhưng nhiều công ty tên tuổi đã chi hàng nghìn đô la cho đặc điểm nhận diện này của họ và xếp nó là một trong những tài sản lớn của họ (ví dụ như Coca Cola, McDonalds, BP…).

2. Cách sử dụng logo


Có một logo được thiết kế phù hợp là điều rất tuyệt vời nhưng mọi thứ có thể sẽ bị phá huỷ nếu không sử dụng nó đúng cách.

Nếu bạn đã làm theo những lời khuyên trên; đã được hướng dẫn cách sử dụng logo thì nó phải được sử dụng, phải được gửi tới cho tất cả mọi người trong công ty. Khi đã gửi cho tất cả mọi người thì hãy giúp họ hiểu logo nên được sử dụng khi nào và ra sao. Việc duy trì hình ảnh thống nhất trên tất cả các văn phòng phẩm, đồ dùng của công ty là rất quan trọng. Không cho phép màu sắc trên các bản in khác với màu sắc trên letterhead. Nhà thiết kế sẽ đưa ra các hướng dẫn màu sắc để bạn và công ty in ấn biết những màu sắc nào nên được sử dụng cho các lần in sau. Đó thường là sự pha trộn các màu mực cần thiết để tạo ra logo cùng mang một màu sắc trong tất cả các tài liệu, giấy tờ được gửi đi in.

Tất cả những gì bạn phải làm lúc này là in logo lên tất cả mọi thứ. Hơn nữa, nếu bạn hài lòng với nhà thiết kế logo thì nên để họ thiết kế các đồ văn phòng phẩm và brochure cho công ty luôn. Nhà thiết kế sẽ giảm giá cho các công việc thêm này và khi họ đã hiểu về công ty của bạn thì sẽ tạo ra những thiết kế phù hợp hơn rất nhiều.

Mẹo "đổi chác” của các nhà quảng cáo qua "mạng"

Thủa mông muội xa xưa Mai An Tiêm đã biết cách đổi dưa hấu để lấy gạo củi, mắm muối và đủ loại vật dụng thiết yếu cho cuộc sống hoang sơ trên hoang đảo.

Ngày nay, các nhà quản trị tài ba cũng không thiếu "mánh lới" sử dụng triệt để những thứ gọi là "của nhà làm được” nhằm đáp ứng các sản phẩm khác mà doanh nghiệp đang có nhu cầu. Và nếu như bạn sở hữu trong tay một website quảng cáo thì việc này lại càng dễ dàng và tiện lợi hơn nhiều.

Tuy nhiên, không vì thế mà bạn chủ quan gật đầu dễ dãi với bất kì đề nghị cung ứng nào từ phía đối tác. Hãy cân nhắc chọn lựa sản phẩm hoặc dịch vụ hoán đổi, sao cho vừa thoả mãn nhu cầu của doanh nghiệp, lại vừa phù hợp với khả năng cung cấp của khách hàng – với mục tiêu cuối cùng là không "vung tay quá trán" một cách lãng phí những gì do mồ hôi công sức ta khó nhọc làm ra. Ví dụ như:

• Khi bạn cần sản phẩm mang tính cung cấp thông tin: bạn có thể yêu cầu từ phía bên kia những mặt hàng như: băng hình, băng cassette hướng dẫn, tạp chí, ấn phẩm định kỳ…

• Là nhà quảng cáo, có lúc bạn cũng cần một không gian quảng cáo cho chính mình: hãy tính tới mọi hình thức có thể yêu cầu và áp dụng: quảng cáo trên băng-rôn, trên báo điện tử, báo giấy, quảng cáo trên vô tuyến, trên bản fax, trên các trang điện tử chuyên ngành…

• Nếu đối tác là nhà cung cấp dịch vụ đường truyền hoặc quản lý trang chủ, hãy khéo léo thuyết phục để họ nhận trách nhiệm đảm đương “đầu vào" cho trang web của bạn với giá ưu đãi hơn nhiều so với người ngoài, thậm chí là miễn phí.

• Phần mềm thì sao? Tất nhiên một doanh nghiệp quản lý website quảng cáo thì không thể thiếu những chương trình tối quan trọng như: phần mềm kế toán, phần mềm quản trị, phần mềm thiêt kế đồ hoạ…

• Kiểm toán/ Lưu sổ: những dịch vụ này chiếm một phần không nhỏ trong các khoản chi tiêu của các công ty. Và một khi đã phải bỏ tiền túi ra – tại sao ta không tính tới chuyện "đổi chác”?

• Tư vấn: một công ty tư vấn tìm đến bạn nhờ quảng cáo? Quá hay, tư vấn về thị trường, về pháp luật, tư vấn kinh doanh… không bao giờ là thừa đối với doanh nghiệp.

Giữ khách hàng bằng ấn tượng đầu tiên

Mọi thứ bạn đã sắp xếp ổn thoả: nội dung, tiêu đề, thông tin mô tả, từ khoá, quảng cáo, đối tác liên kết và Google đã chấp thuận bạn là một nhà xuất bản AdSense! Các bài tập về nhà bạn đã hoàn thành, lời khuyên của các chuyên gia SEO (Tối ưu Công cụ Tìm kiếm) cũng đã được bạn cần mẫn áp dụng. Đồng thời bạn đã có một hệ thống thống kê để theo dõi khách viếng thăm web site. Mọi việc đã vào guồng!

Phải mất một thời gian nhưng cuối cùng bạn đã được chứng kiến cảnh khách đến web site ngày càng đông và nụ cười tươi rói nở trên gương mặt… cho đến khi bạn nhận ra rằng hầu như không có sự chuyển đổi từ khách viếng thăm thành khách mua hàng và khi kiểm tra các số liệu thì bạn phát hiện thấy khách trung bình chỉ ở web site của bạn khoảng vài giây! Có điều gì trục trặc chăng? Bạn có thể bán được gì nếu khách viếng thăm đến cửa hàng nhưng không vào tận nơi?

Câu trả lời là rất có thể do sự vắng mặt của “visual glue” - một thuật ngữ mới có thể bạn chưa nghe bao giờ. “Visual glue” nghĩa là làm cho mắt của khách viếng thăm “dán” vào trang web. Đó là ấn tượng nhìn được bằng mắt trước khi bất kỳ một từ ngữ nào được đọc. “Ấn tượng đầu tiên“ đó sẽ không có cơ hội lần 2 để tạo ra.

Một thực tế là mọi người thường đánh giá cuốn sách qua bìa. Do đó, web site của bạn nếu được tính toán và xây dựng cẩn thận thì cũng cần có một cái “bìa” đáng giá… đó chính là phần đồ hoạ. Nếu site của bạn trông như được thiết kế bởi một nữ sinh sau giờ học thì ngay lập tức bạn sẽ bị đánh giá là không chuyên nghiệp và những gì bạn chào bán cũng sẽ chịu chung số phận. Cho nên những gì nhìn thấy đầu tiên (visual glue) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

Có bao nhiêu web site bạn viếng thăm trông giống như những màn hình video đen trắng hay có bao nhiều web site trông giống như những trang báo cáo nhạt nhẽo? Bạn ở lại những trang đó bao lâu?… Có lẽ không lâu bởi chẳng có gì để ngầm báo với bạn rằng bạn đang đến thăm một web site chuyên nghiệp và hiện đại. Hành động đó là phản ứng với “những ấn tượng đầu tiên” về web site. Có thể những website đó có thông tin mà bạn đang tìm kiếm… nhưng bạn không ở lại đó bởi vì mắt của bạn “nói với bạn rằng” chẳng có lý do gì để làm điều đó cả.

Do đó bạn phải chú ý nhiều đến “vỏ ngoài” của web site như với các nội dung của nó. Sau đây là một số điều bạn nên đặc biệt chú ý:

1. Các hình ảnh, như logo, phải có nền (background) sáng sủa giống như nền dùng trên trang hoặc cho các bảng. Cách này sẽ xoá bỏ được “vầng hào quang” màu sắc xung quanh những hình ảnh mà có thể làm cho chúng trông như thể không được đưa lên trang web ngay từ đầu mà là một ý tưởng nảy ra sau.


2. Độ phân giải và kích cỡ của ảnh rất quan trọng vì 2 mục đích: sự rõ ràng và thời gian tải. Trang web sẽ rõ ràng khi hình ảnh được thu nhỏ từ khổ gốc để được khổ chính xác cần thiết cho trang web. Nếu các ảnh trên web là ảnh “bitmap” (tập hợp của các điểm màu) thì khi phóng lớn, chất lượng ảnh sẽ bị mất và trông chúng sẽ thô và xấu xí. Độ phân giải của ảnh nên để ở 96 dpi để có thể hiển thị rõ ràng trên các máy tính hiện đại. Hình ảnh, nếu là JPEG thì có thể nén để giảm dung lượng tới 80% mà không làm mất sự rõ ràng. Điều này sẽ làm giảm kích cỡ tổng thể của file ảnh và do đó cải thiện được thời gian tải.


3. Định dạng ảnh cũng tác động đến sự rõ ràng của hình ảnh. Theo nguyên tắc chung, JPEG là dạng lý tưởng cho ảnh chụp và ảnh mỹ thuật trong khi GIF lại thích hợp nhất với line art (vẽ nét đơn) và đồ hoạ bởi ở đó màu sắc không bị pha trộn nhiều. Làm theo những hướng dẫn đơn giản này đảm bảo khách viếng thăm sẽ dễ dàng thấy các thành phần đồ hoạ của bạn.


4. Màn hình nền (background) nên đơn giản trừ khi site của bạn xoay quanh một sự kiện nào đó hay hướng tới khán giả trẻ. Nói chung, background nên để làm sao để phần text được dễ nhìn. Chẳng hạn như phần text màu đỏ trên nền đen là một ví dụ điển hình của những gì không nên làm.


5. Lạm dụng kỹ thuật đồ hoạ có thể sẽ ảnh hưởng xấu đến các kết quả vì 2 lý do. Một là sẽ làm rối mắt người xem, gây khó chịu và do đó làm cho khách viếng thăm muốn chạy trốn khỏi site. Hai là do nhiều hình hoạ nên thời gian load trang web chậm. Mọi người đều rất thiếu kiên nhẫn, và thời gian tải chậm chắc chắn sẽ không giữ chân được họ. Tuy nhiên, nếu site của bạn thiên nhiều về hình hoạ thì có thể sử dụng thumbnail (hình ngón tay trỏ) để chỉ đến các hình ảnh lớn và rõ ràng hơn.


6. Logo chính là lời tuyên ngôn đầu tiên. Nếu khả năng có hạn thì bạn có thể dùng các chương trình như PaintShop Pro để quản lý các hình ảnh trên site được theo những hướng dẫn trên. Logo web site cần phải được thiết kế riêng, đặc biệt nếu bạn muốn một logo “đơn giản”. Điều này mới đầu nghe có vẻ mâu thuẫn nhưng vấn đề là logo càng ít yếu tố thì mỗi yếu tố lại càng có tầm quan trọng hơn trong việc lựa chọn, sử dụng và kết hợp trong một logo.


Trên đây là những điều cơ bản để xây dựng một web site hấp dẫn thị giác, đem lại cho nó một chút “visual glue”. Nếu web site của bạn thiên về nghệ thuật và bạn muốn tự làm tất cả hoặc một số thiết kế đồ hoạ thì tôi gợi ý cho bạn chương trình Xara X, rất hữu ích nhưng lại là các phương tiện rẻ tiền để tạo nội dung đồ họa (với cả vector - đồ hình hướng đối tượng và bitmap). Chương trình có khả năng lưu giữ các file ở nhiều dạng khác nhau và có phần hướng dẫn. Ngoài ra, người sử dụng chương trình Xara Xone cũng rất lớn nên bạn có thể học hỏi kinh nghiệm từ họ và có thể download nhiều plug-in về Xara.

Hãy nhớ… mọi người thường đánh giá sự vật qua cái nhìn đầu tiên. Điều đó là không công bằng nhưng có một việc bạn có thể làm là quan tâm tới “vỏ ngoài” càng nhiều càng tốt giống như sự quan tâm bạn dành cho nội dung của web site.

Nguồn: VEC

NHỮNG ĐIỀU NÊN BIẾT KHI IN ẢNH KỸ THUẬT SỐ

QC-inan

Nắm vững mối tương quan giữa kích thước điểm ảnh (pixel dimension) và độ phân giải in ảnh (print resolution) là mấu chốt của vấn đề in ảnh kỹ thuật số (KTS) chất lượng cao.

Số lượng chi tiết của một tấm ảnh tùy thuộc vào kích thước điểm ảnh, trong khi độ phân giải của ảnh sẽ quyết định diện tích các điểm ảnh sẽ được in ra. Để thay đổi độ phân giải của một ảnh mà không phải đụng chạm đến kích thước điểm ảnh, ta chỉ cần thay đổi kích cỡ in. Nhưng nếu vẫn muốn giữ nguyên kích thước ảnh in thì khi thay đổi độ phân giải sẽ kéo theo việc thay đổi số điểm ảnh.


Hình 1

B. Kích thước và độ phân giải của ảnh gốc: 791 K, số pixels chiều rộng 500, chiều cao 540, độ phân giải 250 pixels/inch, cỡ ảnh 2 x 2,16 inches.

A. Giảm độ phân giải (còn 100) vẫn giữ nguyên kích thước pixel (791 K 500 x 540), cỡ ảnh thành 5 x 5,4 inches.

Danh từ chuyên môn gọi là no resampling.

C. Giảm độ phân giải (còn 72), giữ nguyên cỡ ảnh 2 x 2,16 inches, làm giảm theo kích thước điểm ảnh (từ 791 còn 65,6 K và 144 x 166 pixels)

Danh từ chuyên môn gọi là resampling.

Số điểm ảnh hiện diện theo chiều dọc và chiều ngang của một ảnh bitmap được gọi là kích thước điểm ảnh. Còn độ phân giải của tấm ảnh là số pixels trên một inch (ppi).

Ảnh bitmap, vector

Ảnh bitmap là tập hợp các pixel (điểm ảnh). Khi xử lý ảnh bitmap, bạn thay đổi các pixel. Bitmap phổ biến cho các ảnh có sắc liên tục (continuous-tone images) như ảnh KTS vì nó cho phép các chuyển các tông màu, sắc độ phụ. Khi in ở độ phân giải thấp và phóng ảnh to ra, kích thước mỗi điểm ảnh sẽ to ra nên ảnh bitmap sẽ bị vỡ hạt.

Ảnh vector là tập hợp các đường thẳng và cong. Ta có thể thay đổi màu, kích thước, di chuyển một đường mà không làm giảm chất lượng ảnh. Đồ họa vector độc lập hoàn toàn với độ phân giải, vì thế có thể in với mọi độ phân giải mà không làm mất chi tiết. Do đó ảnh vector được chọn cho các logo.


Ảnh bitmap khi phóng to


Ảnh vector khi phóng to


Phóng to ảnh 72- ppi và 300-ppi

Khi in một tấm ảnh có độ phân giải cao luôn chứa nhiều chi tiết hơn, có nghĩa là điểm ảnh sẽ nhỏ và số điểm ảnh nhiều hơn so với một ảnh có độ phân giải thấp. Ảnh độ phân giải cao sẽ tái lập lại nhiều chi tiết hơn, các màu trung chuyển sẽ nhiều hơn ảnh độ phân giải thấp. Do đó phóng to ảnh độ phân giải cao vẫn đẹp, không bị vỡ hạt. Vì thế không thể cải thiện một ảnh kém chất lượng bằng cách phóng to ra. Tăng độ phân giải ảnh in chỉ làm cho mỗi điểm ảnh to thêm, tạo hạt (pixelation) hay còn gọi là vỡ hạt. Khi in ảnh có độ phân giải thấp, bạn nên chọn cỡ in thích hợp nhất với nó.


In ảnh có độ phân giải 72-ppi

A: cỡ nhỏ

B: cỡ trung bình

C: cỡ to

Kích thước file ảnh là kích thước của một tập tin ảnh được tính bằng kilobytes (KB), megabytes (MB) hay gigabytes (GB). Kích thước ảnh tỷ lệ với kích thước điểm ảnh của tấm ảnh. Với một cỡ in thì ảnh có nhiều điểm ảnh sẽ cho ta nhiều chi tiết hơn, nhưng đòi hỏi dung lượng lưu trữ nhiều hơn, xử lý và in chậm hơn. Do vậy độ phân giải chính là một dung hòa giữa chất lượng ảnh (ghi nhận mọi chi tiết cần thiết của chủ thể, cảnh quan) và dung lượng file ảnh. Phần mềm Photoshop cho phép người dùng xử lý ảnh có kích thước ảnh tối đa là 300.000 x 300.000 pixels.



VÀI TUYÊT CHIÊU CỦA PHOTOSHOP KHI IN ẢNH

Bạn nên nhớ khi chuẩn bị in ảnh (phóng to) thì hai yếu tố phải quan tâm hàng đầu là kích thước ảnh in và độ phân giải. Đây là hai số đo quyết định tổng số pixel, đồng thời cũng là dung lượng của file ảnh. Khi chọn resampling, bạn có thể thay đổi cỡ in ra ảnh và độ phân giải một cách riêng rẽ (do đó sẽ thay đổi tổng số pixels của ảnh). Khi tắt resampling, bạn chỉ nên thay đổi một trong hai: cỡ in hay độ phân giải, Photoshop sẽ tự động thay đổi trị còn lại sao cho tổng pixel vẫn được giữ nguyên. Vì thế, để có một ảnh in chất lượng cao nhất có thể, nên thay đổi cỡ in, độ phân giải trước tiên mà không chọn resampling, sau đó chỉ resampling nếu thấy cần thiết.

1. Chọn Image > Image Size.

2. Thay cỡ in, độ phân giải hoặc cả hai: nếu chọn Resampling thì khi thay đổi cỡ in, độ phân giải số pixels sẽ thay đổi theo. Nếu không chọn resampling thì khi thay đổi cỡ in hay độ phân giải sẽ không làm thay đổi tổng số pixels.

3. Để giữ tỷ lệ giữa chiều ngang và chiều cao tấm ảnh, chọn Constrain Proportion.

4. Trong phần Document Size gõ vào kích thước muốn in, có thể chọn đơn vị khác Inch (cm, mm).

5. Nếu muốn trở lại các giá trị ban đầu, nhấn phím Alt và bấm nút Reset.

6. Để xem cỡ ảnh in chọn View > Print Size, hoặc chọn Hand tool (bàn tay), bấm Print Size trên thanh Option.

Cuối cùng nếu bạn vẫn thấy các vấn đề trên có phần phức tạp thì chỉ cần nhớ vài điểm sau để có một ảnh in to và có chất lượng:

- Chuẩn bị ngay từ khâu chụp ảnh, chứ đừng chụp hú họa rồi thấy pô nào ưng ý bèn in to ra. Chọn chế độ chất lượng cao nhất có thể:

- Ví dụ với máy NIKON COOLPIX Quality : Hi (Hi, Fine, Normal, Basic), Size: FULL hay XGA (Full, XGA, VGA), với máy FUJI FinePix S5000 là 6 MB (2816 x 2120)

- Bạn có thể vô tư khi in ảnh:
40 x 60 cm với file ảnh ~ 1 MB
25 x 35 cm với file ảnh ~ 400 K

- Ngoài ra các yếu tố căn bản có ảnh hưởng đến chất lượng ảnh khi in to là ảnh đúng sáng (bạn nên chụp bao vây – bracketing 1/3 EV), không bị rung khi bấm máy, chọn ISO thấp nhất có thể, chọn khẩu độ nhỏ nhất có thể > f 8 ...

Đồ họa Bitmaps và Vector

Do hoa

Bài viết này sẽ giảng giải về sự khác nhau giữa 2 loại đồ họa, và cố gắng xóa bỏ một số hiểu lầm chung về 2 loại đồ họa này.

Bitmaps

Khi bạn nhìn thấy một hình đồ họa tĩnh trên trang web, nó thường sẽ là một ảnh Bitmap.
Bitmaps được tạo bởi các điểm ảnh (pixels). Các Pixel có thể được mô tả như các điểm 'dot' màu nhỏ, và một hình ảnh có thể được tạo lên từ hàng nghìn những điểm ảnh riêng rẽ.

Khi bạn lưu lại một ảnh Bitmap, tất cả các điểm ảnh sẽ được lưu một cách chính xác giống như chúng được tạo ra.
Nếu bạn tạo một hình vuông kích thước 100 x 100 bạn sẽ có một hình vuông màu xanh kích thước đúng như vậy, điều đó có nghĩa nó sẽ chứa đựng 10.000 pixel màu xanh và dữ liệu sẽ lưu vào một file Bitmap.

Một pixel không thể tăng hoặc giảm kích thước, vì vậy nếu bạn muốn hình ảnh đó tăng 2 lần số pixel thì cần phải có kích thước gấp đôi (200 x 200, chứa 40.000 pixel).

Khi bạn tăng kích thước một hình ảnh Bitmap, máy tính sẽ thêm các điểm sao cho đầy với không gian yêu cầu. Máy tính cố gắng thực hiện điều này bằng cách dò các điểm ảnh đã có trên hình. Với một khối hình vuông màu sao cho khớp nhất, tuy nhiên với hình ảnh phức tạp thì sẽ có những thuật toán riêng để tạo các hình ảnh tiếp theo và có thể phải làm mờ đi đường viền.

Vấn đề sẽ nguy hiểm nếu tăng số lượng kích thước lớn, và dĩ nhiên ảnh tạo ra phải tạo sắc nét bằng một phần mềm đồ họa, nó sẽ không có chất lượng tốt bằng hình ảnh gốc.

Đồ họa Vector

Đồ họa Vector là một kiểu ngược lại hoàn toàn so với đồ họa Bitmap theo cách tạo và lưu trữ.

Sự tạo thành một hình đồ họa vector là theo các đường thẳng (line), các đường cong (curver) và các điểm (point) thay vì bằng điểm ảnh (pixel). Ở đây chúng tạo các đối tượng hơn là tô đầy các điểm màu, mẫu (pattern) và tô dải chuyển màu (gradient).

Khi một đồ họa vector được lưu lại bằng một phần mềm thì cấu trúc của hình ảnh sẽ được xây dựng, thay vì việc tô màu cố định của các ảnh điểm màu.

Điều này có nghĩa rằng hình ảnh có thể thay đổi và sẽ giữ được chất lượng y nguyên. Nó chỉ tạo lại cấu trúc hình đã lưu với kích thước khác.

Có nghĩa rằng nó rất mềm dẻo và Đồ họa Vector không phức tạp như hình ảnh Bitmap, và không thể để tạo được các hình ảnh chụp thật, hay các hình ảnh tinh tế huyền ảo của các kết cấu vật liệu mà màu có thể tạo ra.

Tuy nhiên trong việc tạo nghệ thuật thì cần việc tạo ra các hình ảnh với kích thước khác nhau bằng đồ họa vector theo ý tưởng đưa ra. Ví dụ thiết kế Logo cho một công tuy là cần thiết in lên một cái card và yêu cầu kích thước to hơn nếu in lên một cái Poster (tranh dán tường).

Một đồ họa Vector có thể chuyển thành Bitmap, tuy nhiên một đồ họa Bitmap không thể chuyển thành đồ họa Vector. Nó có thể, nhưng hình sẽ không bao giờ giống như hình ảnh bitmap gốc, và khi thay đổi kích thước sẽ phát sinh vấn đề.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét